TU ĐỨC TRUYỀN GIÁO
THỨC HÓA QUÊ HƯƠNG TRUYỀN GIÁO

 

I. MỘT GIẤC MƠ: THỨC HÓA VƯƠN MÌNH TRUYỀN GIÁO

Bỏ Roma về Việt Nam phục vụ sau 44 năm xa cách, tôi thấy có nhiều sự khác biệt, và có một sự khác biệt nổi cộm lay động tâm trí, trở thành nỗi băn khoăn, thao thức và thách đố. Tôi bỏ Roma giữa lúc cao trào chống đối Giáo Hội và chống đối chính Chúa đang dâng lên, gây ra một bầu khí nghi kỵ trong các liên hệ, tẻ nhạt trong các sinh hoạt và nghi lễ tôn giáo, làm nhiều giáo hữu chán nản và bị lung lạc trong đức tin.
Về đến Việt Nam, tôi hít thở một không khí đạo hạnh của những buổi kinh lễ sốt sắng  và những liên hệ tình nghĩa giữa các chủ chăn và đoàn chiên. Nhưng sau một thời gian ngắn, qua một đôi sự kiện, lại dấy lên một phong trào chửi bới các chủ chăn, làm nhiều giáo hữu hoài nghi và hoang mang. Ngoài ra, khi có dịp đến những môi trường ngoài các dòng tu và các giáo xứ, tôi mới cảm thấy rõ ràng là còn quá nhiều người chưa biết Chúa, chưa biết Giáo Hội, chưa biết linh mục là gì. Trên lý thuyết thì vẫn biết là người công giáo chỉ là một thiểu số, hơn kém 7% dân số, nhưng bây giờ mới thực sự cảm được thực tại. Đó là nói về tình trạng tại Việt Nam. Nếu nhìn chung ra cả thế giới thì số anh chị em lương dân thật là vô số. Theo thống kê mới nhất thì vào năm 2000 số anh chị em lương dân là 4,072,440,000 người, trong khi số kitô hữu gồm đủ Công Giáo, Tin Lành, Chính Thống là 2,013,132,000. Cứ theo nhịp tiến của dân số hiện nay, vào năm 2025, số anh chị em lương dân sẽ lên tới 5,295,770,000, trong khi số kitô hữu chỉ có 2,714,741,000.
Tôi rất băn khoăn trước tình trạng này và từ băn khoăn, tôi đi tìm ánh sáng và lấy lại lòng xác tín vẫn là nguồn gốc và sức mạnh của cuộc đời và mọi lựa chọn của tôi. Đó là niềm xác tín về Chúa Giêsu: chỉ có Người mới là nguồn mạch sự sống và chỉ có Người mới đem lại sự an bình cho lòng người và sự hòa giải cho thế giới. Câu hỏi tiếp theo dĩ nhiên phải là “Ai ra đi làm cho người ta biết Chúa và yêu mến Chúa để họ được sức sống dồi dào, được an bình cho tâm hồn và được hòa giải với nhau?”
Ai đi? Con cái Thức Hóa chứ còn ai nữa! Tôi vui mừng và hãnh diện nghĩ đến bà con đồng hương Thức Hóa. Đi đâu họ cũng thành công. Rất nhiều con em Thức Hóa là kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, giám đốc, phó giám đốc, chuyên viên, v.v. Nhưng Thức hóa có bao nhiêu nhà thừa sai truyền giáo? Và tôi mơ. Tôi mơ lại giấc mơ của ngôn sứ Isaia (Is 6,8): tôi mơ thấy Thiên Chúa ngồi trên ngai cửu trùng. Ngài hỏi: Ai sẽ đi khắp muôn nơi nói cho mọi người biết là Ta thương yêu họ? Ta sẽ sai ai được? Và con cái Thức Hóa đồng thanh đáp lại: này con đây, xin hãy sai con!

 

II. Tu Đức Truyền Giáo

Nói về truyền giáo thì phải nói nhiều lắm, nhưng trong giới hạn của một bài chia sẻ ngắn, tôi chỉ nói đến yếu tố tâm linh. Mà yếu tố tâm linh thôi cũng vẫn còn quá nhiều, nên tôi lại giới hạn lại trong hai ba điều, lấy hứng từ một bài giảng của chính Chúa đã được phụng vụ Mùa Vọng nhắc đến hai lần. Lần I là bài Tin Mừng theo thánh Matthêô (Mt 11,7-10) của Chúa Nhật III và lần II là bài sách Tin Mừng thánh Luca (Lc 7,24-27) của ngày Thứ Năm, tuần III.

“Khi những người ông Gioan sai đến đã ra về, Chúa Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng: ‘Anh em đi xem gì trong sa mạc? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em đi xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra làm gì? Để xem một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.” (Mt 11,7-10, x. Lc 7,24-27).

Từ bài giảng của Chúa, người ta có thể nhận ra hai yếu tố của Tu Đức Truyền Giáo để từ đó khám phá thêm những tâm tình thiêng liêng trong việc giới thiệu Chúa Giêsu cho anh chị em lương dân.

1. Biết mình

cc. 7-8: “Anh em đi xem gì trong sa mạc? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em đi xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra làm gì?”

a) Câu hỏi lạ đời của Chúa

Bài giảng này Chúa nói vào cuối đời của thánh Gioan Tẩy Giả. Trước đó, các sách Tin Mừng kể là dân chúng kéo nhau vào sa mạc nơi Gioan Tẩy Giả rao giảng và làm phép rửa để xin được chịu phép rửa. Thế thì tại sao Chúa còn hỏi “Anh em vào sa mạc xem gì hay tìm gì?” Rõ ràng là đi xem, đi tìm Gioan Tẩy Giả và để xin được rửa tội chứ còn gì nữa. Vậy mà Chúa còn hỏi: “Anh em đi xem gi?” Chắc các môn đệ đã trách thầm Chúa như trong trường hợp có người đàn bà chạm vào Ngài và Ngài hỏi: “Ai đã chạm vào ta?” và các môn đệ ngạc nhiên, có lẽ hơi khó chịu trả lời: “Thầy coi, dân chúng đang chen lấn chung quanh Thầy thế này mà Thầy lại hỏi ‘Ai chạm đến ta?’”  (Mc 5,30-31).

b) Vấn đề của nội tâm

Chúa hỏi và Chúa đưa ra hai giả thuyết cho câu trả lời: 1) Đi tìm cây sậy phất phơ trước gió và 2) đi tìm xem người mặc gấm vóc lụa là. Té ra nói là đi tìm Gioan Tẩy Giả để được rửa tội, nhưng thực chất lại là tìm cái khác. Đó là vấn đề hàm hồ, không rõ ràng hay hơn nữa giả dối và mâu thuẫn của nội tâm con người. Người ta thường lặp lại câu nói: “Nói vậy mà chẳng phải vậy đâu”!
Nói về nội tâm và để cắt nghĩa tính cách nền tảng của đời sống nội tâm trong cuộc đời của các kitô hữu, đặc biệt các tông đồ tận hiến, có lẽ không gì cắt nghĩa rõ cho bằng dụ ngôn Chúa nói trong sách Tin Mừng thánh Matthêô (7,21-23) :

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?" Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!”

Áp dụng vào hoàn cảnh sống và công việc tông đồ hiện nay, có lẽ đoạn sách Tin Mừng trên có thể được diễn tả lại như sau: “Trong ngày ấy, nhiều người sẽ nói với Ta rằng: 'Lạy Chúa, Chúa không nhớ sao, con đã xây mấy Nhà Thờ’;  người khác thì nói: ‘Lạy Chúa, con đã mở được mấy nhà trẻ và lớp học tình thương’; người khác nữa lại nói: ‘Lạy Chúa, con đã hô hào lạc quyên giúp đỡ người nghèo và các nạn nhân các cuộc thiên tai; con đã  đi thăm tận nhà những ông già bà lão cô đơn, con còn can đảm lên tiếng bênh vực người bị áp bức, người bị đối xử bất công’; người khác nữa thì nói: 'Lạy Chúa, con đã dạy bao nhiêu trẻ  biết đọc biết viết, con còn dạy chúng đọc kinh và xưng tội rước lễ, con đã tổ chức các hội đoàn hát khản cổ tôn vinh Chúa; có khi con còn chịu đựng hy sinh,  nhịn ăn nhịn uống vì việc bác ái’ v.v.”. Và cứ thế, người ta lần lượt lên trình diện và khoe những công việc tốt lành đã làm.
Nhưng lúc đó, theo bài dụ ngôn, Chúa có thể nói: “Ta chưa hề bao giờ biết ngươi, hãy khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” Lời trách mắng của Chúa thật dễ sợ nói lên tất cả tính cách trầm trọng của vấn đề. Có cái lạ là Chúa đã quở trách  rất nặng nề những người, nói cho cùng, đã làm những điều thiện, điều tốt có ích cho tha nhân. Vậy tại sao Chúa lại quở trách họ? Lý do là họ đã lấy danh nghĩa Chúa để phục vụ chính mình,  đã dùng công việc của Chúa để thực hiện một chương trình nhân loại, một tham vọng cá nhân. Lý do rất đơn giản, nhưng lại là cái cốt tủy của tất cả cuộc đời kitô và công việc phục vụ bác ái. Nhiều người có thể cùng làm một công việc, nhưng lý do, mục đích và tinh thần có thể rất khác, có thể còn trái ngược nhau nữa.
Công việc giúp đỡ phục vụ, tự bản tính, là một diễn tả của tình yêu, nhưng trong thực tế, lắm khi lại không phải như thế. Có người phục vụ vì tình yêu Chúa thúc đẩy; có người phục vụ vì bản tính tự nhiên thích phục vụ; người khác phục vụ hết mình để cạnh tranh ảnh hưởng; có người phục vụ để được khen ngợi, để được lợi lộc, v.v. Chính vì vậy mà công việc từ thiện bác ái và bảo vệ công lý hòa bình tự bản tính là công việc tốt và có tính cách xây dựng, nhưng trong thực tế lắm khi không những không xây dựng mà còn gây chia rẽ.  Người ta cũng đánh đấm nhau vì công việc bác ái; nhân danh công lý và hòa bình, người ta đã gây ra biết bao bất công, làm tủi nhục bao nhiêu người vô tội và gây biết bao chia rẽ và thù hằn! Nhiều người suốt đời vất vả phục vụ người nghèo đói,  bệnh tật mà trong tâm hồn vẫn đầy dẫy kiêu căng, ganh tị, bạo động, áp bức, tham vọng. Công việc phục vụ của họ chẳng xây dựng cho họ, mà cũng chẳng xây dựng những người họ phục vụ.
Tôi có nghe người ta kể một câu truyện ngồ ngộ, không còn nhớ nghe ở đâu, nhưng đại khái truyện kể có tên là “Cái Rắm” và kể như sau:

Một hôm nhà vua đang ngự triều bỗng đánh rắm. Các quan văn bên phải lắng tai nghe rồi tâu: “Muôn tâu bệ hạ, nghe như tiếng đàn, tiếng sáo ạ!”, các quan võ bên trái thì hít hà rồi tâu: “Muôn tâu bệ hạ, ngửi như mùi huệ mùi lan ấy”.  Nhà vua nghe tâu sướng tai lắm, nhưng rồi đâm lo và nói: “Phàm thiên hạ đánh rắm thời phải thối và nghe cũng chói tai, nay trẫm đánh rắm lại thơm và còn nghe du dương, e trẫm băng hà đến nơi”. Tả hữu mặt chảy dài. May sao giữa lúc đó nhà vua lại phun ra phát rắm thứ hai. Các quan văn bên phải liền vươn cổ ra tâu: “Muôn tâu bệ hạ thối rồi ạ!” Các quan võ bên trái cũng không kém, liền tâu: “Muôn tâu bệ hạ, không những thối mà còn thối nhiều rồi ạ!”

Các quan thi nhau khen vua! Tiếng là khen vua, nhưng thực chất là lấy lòng vua, mong được cái gì đó, chẳng hạn, lợi lộc hay chức tước. Như vậy là ích kỷ, tìm tư lợi chứ đâu có quí hóa gì vua!
Tại sao cái lòng của con người lại hồ đồ, lộn xộn như thế? Nguyên nhân có thể rất khác nhau, tùy người, tùy trường hợp, nhưng có một lý do nền tảng, chung cho hết mọi người là vì bản tính loài người đã bị ô nhiễm bởi tội nguyên tổ. Sự phức tạp và hỗn độn của lòng con người có thể được diễn tả theo mộ hình dưới đây. Mối liên hệ giữa các yếu tố trong lòng được diễn tả bằng mũi tên. Một mũi tên diễn tả sự hòa hợp và nhất thống; ba mũi tên diễn tả sự mâu thuẫn và hỗn độn.        
                      

Trong lý trí con người có các tư tưởng. Trước tội nguyên tổ, các tư tưởng hòa hợp với nhau vì cùng có một nguồn là ánh sáng của Thiên Chúa. Rất nhiều tư tưởng, nhưng các tư tưởng hòa hợp với nhau nên chúng ta viết một mũi tên. Mỗi tư tưởng làm phát sinh một tình cảm. Vì tư tưởng hòa hợp nhau, nên các tình cảm cũng hòa hợp nhau. Tình cảm thúc đẩy ý chí quyết định. Vì tất cả hòa hợp nên cùng đi về một hướng và ý chí dễ quyết định. Sau tội nguyên tổ, vì hậu quả của tội nguyên tổ như xa lìa và chống đối Thiên Chúa, các tham vọng, tư lợi, dục vọng…, lý trí con người không vươn lên tìm ánh sáng của Thiên Chúa để nhìn vạn vật, thụ tạo, mà nhìn thẳng sang các thụ tạo. Vì vậy, các ý tưởng trong trí óc xung khắc nhau và từ đó, các tình cảm cũng xung khắc nhau. Ý chí quyết định dưới sức ép của các tình cảm xung khắc nên bất nhất và mâu thuẫn; khi thế này, lúc thế kia. Tình trạng này được diễn tả qua ba mũi tên.
Trong hoàn cảnh này, nhu cầu tu đức đầu tiên trong công việc truyền giáo là nhận ra lòng mình và con người thực của mình để thanh luyện, mong được thanh thoát trước tất cả, mà “tất cả” đây tóm lại thì cũng chỉ là “Ba thù”: Tình, Tiền, Danh Vọng. Nếu không tự do, thanh thoát, người ta sẽ không tìm Chúa, không hiểu Chúa và cũng chẳng giới thiệu Chúa cho ai, mà chỉ tìm mình, tìm tư lợi, tìm tham vọng và giới thiệu chính mình.

 

2. Biết Chúa

Cc 9-10: Thế thì anh em vào sa mạc để làm gì? Để xem một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng:Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.”

a) Nhận ra căn tính của Gioan Tẩy Giả

- Đặt lại cho rõ mục đích: Có khi người ta đã tự lừa dối mình ngay từ khi bắt đầu công việc, nhưng lắm khi người ta rất chân thành lúc đầu, nhưng từ từ các thứ dục vọng mới dấy lên, che lấp tâm trí và làm cho công việc chuyển hướng và biến thể.  Chúa dẫn người ta gạt bỏ các hậu ý để ý thức rõ mục đích của việc vào sa mạc. Đó là để tìm, để xem, để nghe Gioan Tẩy Giả.

- Nhận ra căn tính của Gioan Tẩy Giả: “Đây còn hơn cả ngôn sứ nữa”. Các ngôn sứ kêu gọi Dân Chúa ăn năn trở lại, loan báo lời hứa cứu độ. Gioan Tẩy Giả không chỉ loan báo lời hứa, nhưng chỉ rõ chính Chúa là Đấng Cứu Độ. Vì vậy, nhận ra căn tính và sứ mệnh của Gioan Tẩy Giả cũng là khám phá ra căn tính của Chúa.

b) Nhận biết ra Chúa

Chúa Giêsu chính là Đấng Cứu Độ Thiên Chúa Cha đã hứa từ thời nguyên thủy. Chúa Giêsu là biểu hiệu của tình yêu trời bể của Thiên Chúa Cha. Để cứu độ nhân loại, Thiên Chúa đã không gửi một nhân vật hoàn hảo, một Thiên Thần hay Tổng Lãnh Thiên Thần mà đã đích thân đến để cứu chuộc nhân loại qua Con Một Yêu Quí Duy Nhất của Ngài. Đó là Chúa Giêsu.
Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa có sai các Thiên Thần, các Ngôn Sứ đến, nhưng các ngài khôg phải là đấng cứu độ, mà chỉ là những sứ giả, dọn đường cho Con Một Duy Nhất của Ngài nhập thể làm người để cứu chuộc loài người và canh tân toàn thể vũ trụ.
Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của nhân loại mà Thiên Chúa Cha đã hứa từ thuở đời đời. “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để nhờ vào Danh đó chúng ta có thể được cứu độ” (Cv 4,12).
Nhưng hôm nay, hơn hai ngàn năm sau ngày Chúa xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại, Đấng Cứu Chuộc của nhân loại vẫn còn là một người vô danh đối với đa số dân chúng thế giới. Còn quá nhiều người chưa biết là Chúa Giêsu chính là Đấng Cứu Chuộc của họ. Họ vẫn còn mải mê đi tìm một Đấng Cứu Độ nào khác. Con số đông đảo những anh chị em chưa biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ có thể được diễn tả qua bảng thống kê dưới đây:

Dân số

2000

2009

2025

2000 - 2025

 

 

 

 

 

Dân số toàn cầu

6,085,572,000

6,828,157,000

8,010,511,000

1,924,939,000

Dân số kitô

2,013,132,000

2,271,727,000

2,714,741,000

701,609,000

Dân số không kitô

4,072,440,000

4,556,430,000

5,295,770,000

1,223,330,000

 

 

 

 

 

Công giáo

1,052,924,000

1,134,584,000

1,317,038,000

264,114,000

Hồi giáo

1,226,046,000

1,449,614,000

1,880,731,000

654,685,000

Ấn giáo

798,610,000

913,455,000

1,091,008,000

292,398,000

Không tôn giáo

764,483,000

773,947,000

819,374,000

54,891,000

Tôn giáo trung quốc

367,967,000

388,609,000

425,919,000

57,952,000

Phật giáo

366,625,000

387,872,000

438,079,000

71,454,000

Đạo truyền thống

241,554,000

266,281,000

287,041,000

45,487,000

Vô thần

145,375,000

148,346,000

149,110,000

3,735,000

Tôn giáo mới

101,044,000

106,183,000

110,814,000

9,770,000

Đạo Sikh

20,484,000

23,988,000

29,483,000

8,999,000

Do thái giáo

14,035,000

15,088,000

16,779,000

2,744,000

Source: International Bulletin of Missionary Research (David B. Barrett & Todd M. Johnson),
January 2009.  vol. 33, n. 1, p. 32.

 

3. Tâm tình trong việc giới thiệu Chúa cho anh chị em lương dân

Còn quá nhiều người chưa biết Chúa, chưa múc nguồn sự sống nơi Chúa. Thế mà nhiều con cái Chúa vẫn thờ ơ, loay hoay với mấy vấn đề của mình hay thỏa mãn hãnh diện vì cộng đoàn của mình ngon lành hơn nhiều cộng đoàn khác hay vì “giáo dân của mình còn đạo đức sốt sắng chứ không bỏ đạo như bên Tây”. Nhiều khi anh chị em lương dân sống ngay bên cạnh hay ở giữa cộng đoàn mà mình cũng không biết hay biết mà không quan tâm để họ cũng biết được Chúa Giêsu là Chúa của họ! Cần phải mở rộng các sinh hoạt mục vụ và trước tiên cần phải mở lòng hướng về anh chị em lương dân và làm cho tất cả cộng đoàn mở lòng ra đi đến với họ để chia sẻ với họ niềm vui của những người đã tìm được Nguồn Sống.
Nhiệm vụ giới thiệu Chúa cho anh chị em lương dân và chia sẻ với họ niềm vui được biết Chúa để mọi người yêu mến Chúa và đón nhận Chúa đòi hỏi nhiều tác động, dưới nhiều khía cạnh. Ở đây, chúng ta chỉ bàn qua ít dòng vắn gọn một vài khía cạnh của tâm hồn người tín hữu có nhiệm vụ đưa Chúa đến cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.

a) Niềm vui đã được biết Chúa và đã gặp được Chúa

Tâm tình đầu tiên của người tông đồ đem Chúa đến cho anh chị em lương dân là niềm vui. Người tông đồ thừa sai là người mang trong mình Tin Vui ơn cứu độ, niềm vui đã gặp được Chúa. Trong thực tế, nhiều kitô hữu, môn đệ của Chúa không vui, không hạnh phúc. Người ta có vui, nhưng là vui vì có được đồ vật hay vì được thành công, nhưng chưa phải là vui vì được gặp Chúa. Vì vậy, cần phải nói đến hành trình thiêng liêng của niềm vui biết Chúa, tiến dần qua ba chặng đường:

- Trân trọng Chúa Giêsu

Qua suy niệm và kinh nghiệm sống, xác tín là Chúa Giêsu đúng thực là kho tàng quí giá, là viên bích ngọc, nên trân trọng và không thể đánh đổi với bất cứ cái gì, cho cả mạng sống. “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.” (Rom 8,35-39).

- Sẵn sàng bỏ tất cả, chịu đựng thiệt thòi vì Chúa

Sẵn sàng từ bỏ tất cả và chịu đựng thiệt thòi vì Chúa Giêsu là đặc tính thứ hai của tu đức truyền giáo. Đây cũng chính là tâm tình của thánh Phaolô, tông Đồ dân ngoại. “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đã chấp nhận mất hết, và tôi coi tất cả như rác rưởi, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Môsê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Kitô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin. Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết.”  (Pl 3,7-11). Ai không chấp nhận từ bỏ tất cả vì Chúa Giêsu, không thể nếm được niềm vui của sự sống trong mối thân tình với Người.

- Sống thân tình mật thiết với Chúa Giêsu

Sống thân tình mật thiết với Chúa Giêsu trong tình yêu giao ước được thể hiện cách đặc biệt bằng đời sống cầu nguyện mà chúng ta có thể diễn tả qua kinh nghiệm tình yêu giao ước mà chính Chúa đã dùng để diễn tả mầu nhiệm Nước Trời (Mt 9,14-15; Mt 22,1-12; Mt 25,1-13).

 

TÌNH YÊU VỢ CHỒNG

 

CẦU NGUYỆN, TÌNH YÊU GIAO ƯỚC

  • Hiện diện: nhớ nhau, nghĩ đến nhau ngày đêm. Hình ảnh của người yêu là
  • Sức mạnh nâng đỡ
  • Nguồn gợi hứng
  • Sức mạnh chi phối

T
Ì
N
H

  • Cầu nguyện liên lỉ, làm mọi sự dưới ánh sáng của sự hiện diện của Chúa. Chúa là:
  • Sức mạnh nâng đỡ
  • Nguồn gợi hứng
  • Sức mạnh chi phối
  • Gặp gỡ và trò truyện
  • Khen ngợi, nói lên lòng quí mến, cảm phục
  • Cám ơn
  • Xin giúp đỡ
  • Xin lỗi, làm hòa
  • Trò truyện, trao đổi, chia sẻ tâm tư để hiểu nhau, hiệp thông với nhau

Y
Ê
U

G
I
A
O

  • Giờ kinh nguyện
  • Ngợi khen, thờ lạy Chúa
  • Tạ ơn Chúa
  • Xin ơn
  • Xin ơn tha tội
  • SUY NGẮM
  • Ở bên nhau

Diễn tả sự dâng hiến chính mình, không bằng lời nói mà bằng sự hiện diện

Ư

C

3. Chiêm niệm
Hiện diện, hiệp nhất, dâng hiến

 

b) Thương yêu anh chị em lương dân và khao khát chia sẻ với họ niềm vui được biết Chúa Giêsu

Anh chị em lương dân không phải là một nhóm đồng nhất, nhưng là một thực thể hết sức phức tạp và khác biệt nhau.
Về hoàn cảnh kinh tế, xã hội họ có thể rất giầu hay rất nghèo hoặc không giầu, không nghèo; về phương diện quyền lực, họ có thể là thành phần thấp cổ bé miệng, bị bỏ rơi hay bị áp bức, nhưng họ cũng có thể là những người có quyền thế; về học lực, họ có thể là những người ít học hay còn mù chữ nữa, nhưng cũng có thể là những người trí thức, bằng cấp đầy mình; về tôn giáo, họ có thể thuộc tôn giáo này hay tôn giáo kia, hoặc không thuộc tôn giáo nào và còn coi mình là vô thần nữa; đối với Chúa Giêsu và Hội Thánh, họ có thể là những người có cảm tình và kính phục Chúa và Hội Thánh, nhưng họ cũng có thể là những người rửng rưng hay lạnh nhạt, và có khi còn là những người ghét bỏ, chống đối và tìm cách làm hại Hội Thánh nữa.
Bất cứ họ là hạng người nào, các môn đệ Chúa vẫn một mực thương yêu, kính trọng và can đảm thông truyền cho họ tình yêu của Chúa.

c) Một mẫu gương truyền giáo của thời đại: Chân Phước ĐTC Gioan Phaolô II

Trong thời đại chúng ta, một khuôn mặt sáng ngời, lôi cuốn đông đảo dân chúng và cũng có thể nói là hình ảnh của thánh Phaolô, Tông Đồ Truyền Giáo là ĐTC Gioan Phaolô II đáng kính. Suốt 26 năm trong sứ mệnh chủ chăn Giáo Hội Hoàn Vũ, ngài đã vượt trùng dương loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc, mọi tầng lớp. Chính cái chết của ngài cũng là một lời loan báo Chúa Giêsu một cách hùng hồn. Chắc chắn mọi người đã theo dõi đầy đủ các tin tức và hình ảnh chung quanh cái chết và Thánh L:ễ an táng của ngài. Tôi xin được nhắc lại đây 5 sự kiện:

- Cỗ quan tài gỗ trơn đơn sơ được đặt nằm ngay trên nền của công trường đền thờ Thánh Phêrô.

- Thánh Lễ, tự nhiên có một cơn gió mạnh nổi lên, tư từ lật mở từng trang, từ đầu đến cuối cuốn Thánh Kinh đặt trên quan tài của ngài.

- Ngay sau khi ngài qua đời, không ai bảo ai, không ai tổ chức, tự nhiên dân chúng ùn ùn kéo về đền thờ Thánh Phêrô kính viếng thi hài của ngài. Người ta nói là có chừng 4 triệu người. Để có thể vào đền thờ, đi qua trước thi hài của ngài trong giây lát, người ta phải nối đuôi chờ đợi 12, 14 giờ đồng hồ, chịu đựng ban ngày trời nóng, ban đêm khí hậu lạnh. Họ là mọi thứ bậc người: đàn ông, đàn bà, già, trẻ, lớn, bé; họ là các giáo hữu, con cái của Giáo Hội Công Giáo, nhưng cũng có nhiều người thuộc các giáo hội Chính Thống, Tin Lành và ngay cả các tín hữu của các tôn giáo khác như Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo, và có thể cũng có những người vô thần hoặc thù địch với Tin Mừng của Chúa…

- Hiện diện trong Thánh Lễ an táng, có đầy đủ thủ lãnh các quốc gia và của các tôn giáo. Họ xin đến chứ không phải được mời và họ phải ngồi ở hàng ghế đã được Toà Thánh xếp theo vần thứ tự tên các nước theo tiếng Pháp. Cho nên có sự kiện thủ lãnh các quốc gia kình địch với nhau ngồi bên nhau và cũng bắt tay chào hỏi nhau!

- Các hãng truyền hình đã đồng loạt loan báo tin tức về cái chết và các sự kiện diễn tiến sau khi ngài qua đời. Có những đài truyền hình phát hình 24/24 giờ một ngày. 

Cái chết của ĐTC Gioan Phaolô II là một lời loan báo hùng hồn và vĩ  đại về Chúa Giêsu. Ngài đã lôi kéo bao nhiêu người, không phải chỉ những người về Roma, mà còn bao nhiêu người theo dõi tin tức và các lễ nghi qua các phương tiện truyền thông. Sức mạnh nào đã lôi kéo người đoàn lũ đông đảo như vậy? Sức mạnh nào đã qui tụ được các thủ lãnh các quốc gia và đại diện các tôn giáo và có sức hoà giải tất cả như vậy? Đây không thể là kết quả của sức người phàm, nhưng phải là sức mạnh linh thiêng của Thiên Chúa, có sức thúc đẩy, hàn gắn và qu tụ lòng người. Về phíc ĐTC Gioan Phaolô II, ngài đã là một dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Thiên Chúa, diễn tả qua khẩu hiệu của ngài: “Totus Tuus”. “Tất cả con là của Mẹ” và phần thứ II hiểu ngậm: “để tất cả con thuộc về Chúa Giêsu”. Yếu tố quan trọng ở đây nằm ở chữ “Totus”, có nghĩa là “tất cả”, ‘trọn vẹn”.
Cỗ quan tài bằng gỗ đơn sơ đặt trên nền công trường đền thờ Thánh Phêrô cũng kéo sự chú ý của nhiều. Lý do không phải vì nói lên sự nghèo khó. Nghèo khó thì có gì mà hấp dẫn? Sức hấp dẫn nằm ở lý do của sự nghèo hèn đơn sơ: Ngài  đã chọn duy chỉ mình Chúa, đã sống hoàn toàn cho Chúa và vì Chúa. Đúng là “Totus Tuus”. Chính vì thế, qua sự nghèo hèn và đơn sơ của ngài, Chúa đã có thể thể hiện tất cả sức mạnh của ơn thánh và tình yêu của ngài.

Sự kiện cơn gió nổi lên, như thể một ngón tay từ từ lật giở từng trang, từ đầu dến cuối của cuốn Thánh Kinh đặt trên cỗ quan tài và sau cùng thì gấp lại: có người cho đó là  tình cờ, người khác cho đó là sự can thiệp trực tiếp của Chúa. Ai muốn cắt nghĩa theo chiều hướng nào tùy ý. Nhưng sự kiện đó có nói lên một điều quan trọng của cuộc đời thiêng liêng của ngài. Đó là ngài đã sống Tin Mừng cách trọn vẹn; cuộc đời của ngài đã được thấm nhuần bằng Lời Chúa; ngài đã sống tất cả sứ điệp Ơn Cứu Độ. Đúng là “Totus Tuus”. Sự kiện này giúp chúng ta hiểu rõ hơn một khía cạnh tế vi của sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa.
Dâng hiến tất cả cho Chúa không phải chỉ có ý nghĩa sẵn sàng từ bỏ tất cả vì Chúa và chịu thiệt thòi vì Chúa, mà còn có nghĩa là để cho lòng mình được thay đổi theo tinh thần của Chúa và mọi khía cạnh của con người mình đều được thấm nhuần bằng tinh thần của Chúa Giêsu để trở thành hương thơm của Người. Tôi muốn lặp lại lời của thánh Phaolô: “Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng cho chúng ta tham dự cuộc khải hoàn trong Chúa Kitô, và đã dùng chúng ta mà làm cho hương thơm của sự nhận biết Chúa Kitô lan toả khắp nơi trong thế giới. Thực vậy, chúng ta là hương thơm của Chúa Kitô dâng kính Thiên Chúa, toả ra giữa những người được cứu độ cũng như những kẻ bị hư mất.” (2Cor 2,14-15).


Ước trong hàng ngũ con cái Thức Hóa từ quê hương miền Bắc vào trong Nam ra khắp năm châu sẽ có nhiều người được thấm nhuần tinh thần của Chúa Giêsu ra đi làm lan tỏa hương thơm ngào ngạt của Người khắp nơi. Gặp được một con cái Thức Hóa là người ta ngửi được một mùi thơm ngào ngạt đặc biệt. Đó làMùi Giêsu”.

Lm. Giuse Đinh Đức Đạo